Cử nhân thất nghiệp: “Đã đến mức báo động”

Tình hình cử nhân thất nghiệp đã lên đến mức báo động (riêng quý 3 năm 2014 có 174.000 người); lạm phát bằng cấp; năng suất lao động quá thấp so với các nước trong khu vực.
Bà Phạm Thị Ly, Viện đào tạo Quốc tế, ĐHQG TP.HCM, nhận định tại diễn đàn Các bên liên quan trong giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng tại Việt Nam, diễn ra ngày 18/12.
Theo bà Ly, số người vào ĐH bắt đầu giảm từ 3 năm qua cùng lúc với số lượng du học tự túc tăng nhanh, là những hiện tượng cho thấy lòng tin của xã hội đối với tấm bằng ĐH đã sút giảm rất nhiều, đòi hỏi các trường phải tự cải thiện.
Theo ông Đàm Quang Thắng, Tổng giám đốc Cty TNHH Agricare Việt Nam thì cả 4 yếu tố trình độ chuyên môn, thông tin, kiến thức thực tế, kỹ năng thực hành xã hội của sinh viên mới ra trường đều có sự thiếu hụt.
“Việc tìm kiếm nguồn nhân lực vẫn chủ yếu phụ thuộc vào kênh tuyển dụng, các công ty săn đầu người hoặc tìm kiếm ở các cty có cùng ngành nghề kinh doanh, trong khi có đến 50% sinh viên tốt nghiệp ĐH, CĐ đối mặt với việc thất nghiệp hoặc không kiếm được việc làm phù hợp với chuyên môn, ngành nghề đã học”.
Theo nhiều chuyên gia giáo dục, lối thoát cho tình trạng thất nghiệp của cử nhân tốt nghiệp ĐH, CĐ là thực hiện giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng.
Ông Bùi Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD-ĐT) cho biết, mô hình giáo dục ĐH theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng (dự án POHE) từ năm 2010.
Quy mô thực hiện mô hình này hiện tại đang dừng ở 8 trường, với 2.200 sinh viên đã tốt nghiệp và 6.000 sinh viên đang theo học. Đáng chú ý là 8 trường này đã lôi kéo được hơn 500 doanh nghiệp cùng tham gia.
Theo: VNN

Sinh viên thất nghiệp nhiều, hiệu trưởng nên… nghỉ

Về mặt số lượng thì VN không phải là nhiều ĐH so với các quốc gia khác, nhưng lại nhiều trường tệ, theo nghĩa học đại học ở đó ra cũng không làm được việc, mà chỉ lấy một cái danh đại học” – TS Đàm Quang Minh.

LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu Phần 2 nội dung cuộc trò chuyện với  TS Đàm Quang Minh, hiệu trưởng Đại học FPT, xung quanh một vài câu chuyện giáo dục năm 2014.
Đàm Quang Minh, đại học, thất nghiệp, hướng nghiệp, hiệu trưởng
TS Đàm Quang Minh, hiệu trưởng Đại học FPT. Ảnh: Mỹ Hòa


Minh bạch thông tin, mọi người sẽ tự định hướng
Năm vừa qua, số liệu do bộ LĐTB&XH cho biết, trên 162.000 người có bằng từ cử nhân trở lên thất nghiệp. Theo một so sánh trên Báo Lao động thì con số này tăng khoảng 30% so với cùng kỳ năm ngoái (từ 123.000 người). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, theo đánh giá của ông, vai trò của GD đến đâu?
Những năm  qua, thất nghiệp là vấn đề toàn cầu. Tỷ lệ thất nghiệp ở các nước Nam Âu còn cao hơn VN nhiều lần. Trong bối cảnh đó, VN cũng là một nước bị ảnh hưởng, đó là yếu tố chung.
Còn xét riêng, thì cũng có những yếu tố chủ quan của VN, đó là sự yếu về năng lực làm việc. Ngay ở trường chúng tôi chẳng hạn, khi muốn tuyển dụng nhân sự ở trình độ trung cấp một chút cũng không tuyển đủ được. Nghĩa là đâu đó, cái việc thiếu thì vẫn thiếu, và thừa thì vẫn thừa. Chúng ta thiếu những lao động có kỹ năng, lao động trình độ cao, nhưng lại thừa lao động đơn giản.
Chính tình trạng thừa đó gây ra thu nhập không cao, năng suất lao động thấp. Khi tuyển bảo vệ, kế toán… thì rất nhiều người nộp đơn, nhưng khi tuyển những vị trí cao cấp thì không có, trong khi đó mới là những vị trí tạo ra năng suất lao động cao, thu nhập cao.
Đương nhiên trong chuyện này có một phần lỗi của hệ thống GD lệch lạc, những chỗ cần nhiều người thì đào tạo ít, những chỗ cần ít người thì lại đào tạo nhiều.
Như vậy là chúng ta thiếu một sự định hướng trong giáo dục?
Thực ra là không cần định hướng, không cần phải bảo hãy học kỹ thuật đi, học ngành A, B, C, D đi. Mọi người cứ nghĩ đó là vấn đề định hướng nhưng về bản chất nó là vấn đề thông tin. Người dân nói chung chỉ cần cung cấp đầy đủ thông tin để quyết định được.
Đó là những thông tin như có bao nhiêu doanh nghiệp, tỷ lệ người lao động làm trong các lĩnh vực ra sao, tên công việc là gì. Thống kê ra các đầu công việc trong xã hội đang có và thu nhập trung bình tương ứng là bao nhiêu, biến động trong những năm vừa qua…
Vừa rồi báo chí đưa tin, Bộ trưởng LĐTB&’Times New Roman’, Times, serif; font-size: 16px; line-height: 20px; margin-bottom: 15px; margin-top: 15px; outline: 0px; padding: 0px; text-align: justify; vertical-align: baseline;”>Tôi lúc nào cũng chia sẻ với sinh viên rằng, niềm hạnh phúc lớn nhất của một người thầy là thành công của học trò. Còn chứng kiến học trò của mình thất nghiệp, thất bại thì đó là nỗi đau lớn nhất. Nên trong trường hợp đó có lẽ thôi thì… xin nghỉ.
Từ tất cả những gì ông chia sẻ từ đầu tới giờ, nếu để tóm gọn một vài kỳ vọng cho năm 2015, thì đó sẽ là gì?
Quan trọng nhất đầu tiên là phải soi tỏ về mặt thông tin, khi có đầy đủ thông tin tin cậy chính xác, lúc đó mới ra hành động. Thứ 2 là phân quyền, giao quyền của nhà Nước được tăng cường, thay vì đặt nặng vào chuyện quy định ai phải đi như thế nào, mà quan trọng là anh kém thì tôi sẽ xử. Thứ 3 là việc tuân theo nguyên tắc vận hành của thị trường, các loại thị trường, trong đó có thị trường nguồn nhân lực.
Xin cảm ơn ông đã dành thời gian cho Tuần Việt Nam!
Theo: VNN

Lối thoát cho cử nhân thất nghiệp?

Làm bằng đại học – Theo nhiều chuyên gia giáo dục, lối thoát cho tình trạng thất nghiệp của cử nhân tốt nghiệp ĐH, CĐ là thực hiện giáo dục đại học định hướng nghề nghiệp ứng dụng.

Vấn đề được đưa ra mổ xẻ tại diễn đàn Các bên liên quan trong giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng tại Việt Nam,

 diễn ra ngày 18/12. Ông Bùi Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD-ĐT) cho biết, mô hình giáo dục ĐH theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng (dự án POHE) từ năm 2010. Quy mô thực hiện mô hình này hiện tại đang dừng ở 8 trường, với 2.200 sinh viên đã tốt nghiệp và 6.000 sinh viên đang theo học. Đáng chú ý là 8 trường này đã lôi kéo được hơn 500 doanh nghiệp cùng tham gia. “Nắn”chương trình để chiều thị trường Bà Đỗ Thị Ngọc Oanh, Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên đưa ra ví dụ về sự thay đổi chương trình sau khảo sát nhu cầu: Ngành khoa học cây trồng của trường có giảm khối kiến thức cơ bản từ34% xuống còn 12% thời lượng, giảm số môn học như môn vật lý.
  Thất nghiệp, chương trình, đào tạo, cử nhân, chuyên gia

 Thanh niên tìm việc tại các trung tâm giới thiệu việc làm (Ảnh minh họa: Báo Đầu tư) Kiến thức kỹ năng nghề nghiệp tăng từ 48% lên 57%; môn học về xã hội và quản lý tăng từ 7% lên 20%. Có những môn mới: Xã hội nông thôn, quan hệ công chúng; Tập huấn nông dân, pháp lệnh nông nghiệp… Bà Nguyễn Thị Tính, phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên cũng cho biết, trường đã tiến hành sát thị trường lao động của sinh viên, nhu cầu của các trường phổ thông, xác định hồsơ năng lực của sinh viên cần đào tạo. Từ đó thay đổi lại toàn bộ chương trình đào tạo của nhà trường. Trường ĐH Nông lâm (ĐH Huế) xây dựng chương trình đào tạo khác hẳn chương trình truyền thống. Trường đưa chương trình thực tập cho sinh viên ở doanh nghiệp ngay từ năm thứ nhất, với thời lượng thực tập tăng dần tới năm thứ 3 đã từ 3 – 5 tháng. Lãnh đạo các trường cho biết, điểm khác biệt của các chương trình đào tạo POHE so với các chương trình truyền thống là sự tham gia của các nhà tuyển dụng vào quá trình phát triển chương trình và đào tạo. “Các trường ĐH, CĐ phải có sự liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp sử dụng lao động, lôi kéo họ tham gia vào các khâu trong quá trình đào tạo, trong đó quan trọng nhất là thẩm định đầu ra” – ông Bùi Anh Tuấn nói. Bộ GD-ĐT nhìn nhận, vẫn còn nhiều rào cản trong việc đưa các trường ĐH, CĐ tiếp cận với mô hình đào tạo này, trong đó có “sức ỳ” của chính sách và sự “thờ ơ” của nhiều doanh nghiệp. Giải thích cho sự “thờ ơ”mà lãnh đạo Bộ nhắc tới, ông Phạm Văn Cường (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) nhận xét: Lợi ích tuyển dụng của doanh nghiệp không nhiều, lợi ích quảng bá của doanh nghiệp cũng rất ít. “Vì vậy, để có quan hệ với doanh nghiệp, nhà trường đa phần phải nhờ vào mối quan hệ của giảng viên, cựu sinh viên. Tuy nhiên, nếu cứ nhờ vả mãi kiểu này không được, không bền vững”. Bà Nguyễn Thị Tính cũng“than thở” về vấn đề nảy sinh khi thực hiện chương trình POHE là không có cơ chế mang tính pháp lý về sự phối hợp, giúp đỡ giữa đơn vị đào tạo với các sở GD-ĐT, các trường phổ thông. “Nhà trường đưa sinh viên đi thực tập dựa trên mối quan hệ của cựu sinh viên quay về trường giúp đỡ”. “Từ cách đây một năm, chúng tôi đã có kiến nghị Bộ ban hành cơ chế phối hợp nhưng chưa tiếp nhận được văn bản vào về thực hiện cơ chế này. Bộ cần sớm có văn bản mang tính pháp quy để sở, trường giúp một cách bài bản đúng với danh nghĩa phát triển nghề nghiệp” – bà Tính đề xuất. Cũng mong được luật hoá về quan hệ doanh nghiệp – nhà trường trong đào tạo, ông Nguyễn Tiến Dũng, phó hiệu trưởng Trường ĐH Trà Vinh cho rằng, cần có chính sách miễn thuế cho các đơn vị có sự gắn kết đào tạo với nhà trường. Với kinh nghiệm thực hiện chương trình ngay từ đầu, ông Đinh Văn Dũng, phó giám đốc Chương trình Chất lượng cao và POHE (Trường ĐH Kinh tế Quốc dân) thì đưa gợi ý khác. Đó là thể chế hoá một quỹ đào tạo hợp tác nhà trường, doanh nghiệp. “Doanh nghiệp sử dụng quỹ này để chi tiêu cho sinh viên thực tập, đưa người xuống giảng dạy ở nhà trường. Nếu không sử dụng hết doanh nghiệp sẽ hoàn lại cho Nhà nước” – ông Dũng lập luận.

 Theo: VNN

Bằng Đại học mất giá: Trường dạy chay, nhà tuyển dụng chạy dài

Mổ xẻ nguyên nhân gia tăng sinh viên (SV) ra trường thất nghiệp, các chuyên gia trong lĩnh vực đào tạo đại học (ĐH) và việc làm đều cho rằng phần lớn là do chương trình đào tạo nặng lý thuyết, ít thực hành, xa rời ứng dụng; kế hoạch chỉ tiêu đào tạo của các trường không gắn với nhu cầu thị trường lao động.

Phát biểu tại Diễn đàn các bên liên quan trong giáo dục ĐH định hướng nghề nghiệp ứng dụng tại Việt Nam do Bộ GD&ĐT tổ chức cuối tháng 12-2014 tại Hà Nội, TS Phạm Thị Ly, Viện Đào tạo quốc tế – ĐH Quốc gia TP.HCM, đặt thẳng vấn đề: Nguyên nhân chính là do nhu cầu bằng cấp ĐH đã bão hòa, bằng ĐH đã gần mất hết giá trị.

“Chỉ cần một micro là dạy ầm ầm”
Phân tích giá trị làm bằng đại học tại TPHCM giảm thấp trong mắt nhà tuyển dụng, TS Đỗ Văn Dũng, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, cho rằng do chương trình đào tạo ở nhiều trường ĐH còn nặng lý thuyết, việc ứng dụng vào công việc thực tiễn không cao. “Nhiều trường có ngành nghề đào tạo truyền thống lẫn những trường mới mở đều chăm chăm vào những ngành ít tốn tiền, dễ sinh lời và ít đầu tư thiết bị thực hành. Những ngành nghề này chỉ cần một ông thầy với một cái micro là dạy ầm ầm” – TS Dũng bày tỏ.
TS Phạm Thị Ly cũng cho rằng hiện nay đại bộ phận hoạt động đào tạo của các trường ĐH đều theo lối truyền thống, không có sự phân biệt rõ ràng về sứ mệnh và thiếu gắn kết với việc làm; nhấn mạnh lý thuyết hàn lâm mà ít tạo cơ hội cho SV trải nghiệm. “Chừng nào lối dạy chay, chủ yếu đáp ứng nhu cầu bằng cấp của người học vẫn có đất sống thì chừng đó các trường chưa có động lực thay đổi” – TS Ly sốt ruột.
Đồng tình với các phân tích trên, ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo nhân lực và thị trường lao động TP.HCM, phân tích thêm hiện các nhà tuyển dụng đòi hỏi ngày càng cao các kỹ năng mềm nhưng đây là điều mà nhà trường và cả SV chưa quan tâm đầy đủ. “Các kỹ năng như giao tiếp, làm việc nhóm, làm việc độc lập, sự sáng tạo… được nhà tuyển dụng đánh giá cần thiết hơn cả bằng cấp. Tuy nhiên, vấn đề này ở các trường triển khai còn mang tính… sơ khai. Nên đây là điều còn nhiều lo ngại, là điều các doanh nghiệp than phiền nhiều nhất” – ông Tuấn cho biết.
  đại học, thất nghiệp, cử nhân, Trần Anh Tuấn, việc làm, Phạm Thị Ly

Chỉ học lý thuyết, ít thực hành là một nguyên nhân khiến bằng ĐH mất giá. Trong ảnh: SV Trường CĐ nghề TP.HCM trong giờ học thực hành.
Ảnh: P.ĐIỀN
Nhắm mắt đào tạo
Một nguyên nhân quan trọng khác khiến SV ra trường thất nghiệp nhiều, theo TS Dũng là do kế hoạch chỉ tiêu đào tạo của các trường hằng năm không gắn kết với nhu cầu thị trường lao động. “Việc cấp chỉ tiêu đào tạo không bám sát thị trường lao động khiến nguồn nhân lực thừa. Chẳng hạn thời gian vừa qua nguồn nhân lực thừa đã diễn ra ở những nhóm ngành kinh tế, tài chính, sư phạm khiến Bộ GD&ĐT phải tuýt còi” – TS Dũng bức xúc.
Trước tình trạng nơi đào tạo thì vẫn cứ nhắm mắt đào tạo trong khi đầu ra và nhu cầu thị trường lại bão hòa, thậm chí dư thừa, gây lãng phí. “Lẽ ra phải có một cơ quan, tổ chức đứng ra điều tiết, dự báo thị trường lao động cần gì, cần bao nhiêu, trình độ như thế nào, kỹ năng gì… Từ đó sẽ đưa ra các chỉ tiêu đào tạo tương ứng mới không làm rối loạn đào tạo. Thế nhưng vấn đề này nhiều năm nay nêu ra rồi để đó để năm sau lặp lại như cũ” – TS Dũng phân trần.
Cũng đề cập cung-cầu thị trường lao động, ông Tuấn nhìn nhận cơ cấu đào tạo ngành nghề của các trường ĐH và thị trường lao động luôn có sự vênh nhau. Cụ thể cơ cấu ngành kỹ thuật chiếm khoảng 35% trên nhu cầu thị trường việc làm, tuy nhiên trong nhiều năm gần đây các trường ĐH lại tập trung đào tạo khối ngành kinh tế, tài chính dẫn đến sự dư thừa. “Chưa kể có sự ngộ nhận học ngành kinh tế có thu nhập cao hơn các ngành khác nên nhiều người đổ xô đi học. Thực tế các ngành kinh tế cần nhiều kỹ năng đặc biệt chứ không dựa hẳn vào tấm bằng” – ông Tuấn nhấn mạnh.
“Xuống dốc không thắng”
Đào tạo xa rời thực tế khiến người tốt nghiệp ĐH thất nghiệp; đào tạo không cần biết đến nhu cầu dẫn đến dư thừa nhân lực ĐH. Thực trạng trên khiến xã hội báo động: Bằng ĐH đang mất dần giá trị. Dẫn chứng cho lập luận này, TS Ly nêu thực trạng “xuống dốc không thắng” của bằng cấp hệ tại chức. Nhiều địa phương đã “nói không” với bằng ĐH hệ tại chức. “Tình hình cử nhân thất nghiệp, lạm phát bằng cấp, năng suất lao động quá thấp so với các nước trong khu vực, số người vào ĐH bắt đầu giảm từ ba năm qua cùng lúc với số lượng du học tự túc tăng nhanh là những hiện tượng cho thấy lòng tin của xã hội đối với tấm bằng ĐH đã giảm sút rất nhiều” – TS Ly phân tích.
Ở góc nhìn của một chuyên gia về việc làm, ông Tuấn cho rằng nếu tính người có bằng ĐH trên tổng số dân thì tỉ lệ người có bằng ĐH tại nước ta vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, những năm gần đây kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp giải thể, thu hẹp sản xuất nhiều khiến nhu cầu tuyển dụng chậm lại trong khi tốc độ đào tạo ngày càng tăng. Từ đó ông Tuấn thừa nhận có tình trạng thừa nhân lực trình độ ĐH theo kiểu cục bộ.
“Những người tốt nghiệp ĐH đều dồn về các thành phố lớn. Tại TP.HCM trong vòng ba năm qua, mỗi năm SV ĐH, CĐ tốt nghiệp ra trường khoảng 70.000 người. Trong khi nhu cầu tuyển dụng trình độ ĐH, CĐ chiếm khoảng 25% trong tổng nguồn cầu 270.000 chỉ tiêu lao động/năm” – ông Tuấn dẫn chứng.
Cũng theo ông Tuấn, ngoài số SV chính quy ra trường mỗi năm còn có SV hệ liên thông, liên kết, tại chức và SV các tỉnh, thành tốt nghiệp đổ về khiến áp lực việc làm tại các đô thị lớn cạnh tranh gay gắt. Nguồn cung trình độ ĐH bị dư là không thể tránh khỏi.
Theo: VNN

Cử nhân thất nghiệp: Xã hội kêu nhiều, trường bảo ít

Các trường đại học công khai những con số khá lạc quan về tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm.
Theo Quy chế thực hiện 3 công khai mà Bộ GD-ĐT triển khai từ năm 2009, các trường ĐH, CĐ phải công bố trước xã hội về tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường một năm.
  cử nhân, thất nghiệp, ĐH Luật TPHCM, ĐH Thái Nguyên, ĐH lạc Hồng
  Các trường ĐH, CĐ phải công bố tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau khi ra trường 1 năm (Ảnh Lê Anh Dũng)

Giữa tháng 10/2014, Bộ GD-ĐT cũng đã có công văn yêu cầu các trường thực hiện công khai năm học 2014 – 2015. Đặc biệt, là công khai chất lượng giáo dục thực tế về tỉ lệ SV hệ chính quy tốt nghiệp năm 2013 có việc làm.
Tới thời điểm này, còn khá nhiều trường ĐH, kể cả các trường ĐH nhóm đầu, bỏ trống việc công khai tỉ lệ sinh viên có việc làm, dù vẫn công bố các số liệu thống kê mới nhất của năm học 2014 – 2015.

Còn đối với những trường đã công khai số liệu rất được quan tâm này, thì dường như tình trạng cử nhân thất nghiệp không… quá mức gay gắt như xã hội vẫn lo ngại!
Những con số lạc quan
Trường ĐH Mở TP.HCM trong báo cáo công khai ký ngày 4/12/2014, đối với khoá học 2009 (và 2008) – 2013 tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm khá cao.

Trong 16 ngành đào tạo chính quy của trường thì các ngành có tỉ lệ thấp nhất là Xã hội học, Công tác xã hội, Đông Nam Á học là 72%. Ngành Công nghệ sinh học 80%, Kế toán 84%, các ngành Tin học và Hệ thống thông tin kinh tế 86%, các ngành Xây dựng và Công nghiệp là 88%, các ngành Kinh tế và Luật Kinh tế 90%, Tiếng Anh, Tiếng Nhật, Tiếng Trung Quốc 92%, Quảng trị kinh doanh 96%. Ba ngành của chương trình tiên tiến là Quản trị kinh doanh, Kế toán, Tài chính ngân hàng đều đạt tỉ lệ 96%. Các ngành đào tạo hệ cao đẳng đạt tỉ lệ 88%.

Thông báo Công khai cam kết chất lượng đào tạo thực tế của cơ sở giáo dục đại học năm học 2014 – 2015 của Trường ĐH Phan Châu Trinh ký ngày 14/11/2014 đối với sinh viên khoá 2009 – 2013 tỉ lệ có việc làm là: Công nghệ thông tin 88%, tài chính – Ngân hàng 78,7%, Kế toán 87%, Việt Nam học 90%, Văn học 85%, Ngôn ngữ Anh 95%, Ngôn ngữ Trung Quốc 96%, Công nghệ kỹ thuật điện tử truyền thông 89%.

Trường ĐH Luật TPHCM công bố số liệu khảo sát của 5 khóa học sinh gần đây nhất, với các số liệu sau: Khóa 28, 29 (khảo sát năm 2009) tỉ lệ 100%, khóa 30 (năm 2010) 95,91%, khóa 31 (năm 2011) 97,23%, khóa 32 (năm 2012) 94,5%, khóa 33 (năm 2013) 85,3%.
Theo nhận định của nhà trường, tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp Trường ĐH Luật TP.HCM tốt nghiệp hàng năm có việc làm là rất cao.
Điều này chứng tỏ nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực là sinh viên Luật là vẫn còn rất cao. Tuy nhiên, theo tỉ lệ thống kê thì số lượng sinh viên có việc làm đang có chiều hướng giảm do thời gian gần đây sinh viên Luật gặp phải sự cạnh tranh nghề nghiệp khá gắt gao với việc có nhiều cơ sở cũng đào tạo Cử nhân Luật như: ĐH Kinh tế – Luật, ĐH Sài Gòn, ĐH Kinh tế TP.HCM, ĐH Mở TP.HCM…

Trường ĐH Tài chính – Marketing công bố tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp năm 2013 có việc làm tính đến đầu năm 2014 đối với hệ đại học chính quy chương trình đại trà là 64%, trong đó ngành hệ thống thông tin quản lý đạt tỉ lệ thấp nhất là 60%, ngành Marketing đạt tỉ lệ cao nhất là 75%. Hệ cao đẳng chính quy chương trình đại trà đạt trung bình là 62%.

ĐH Quy Nhơn báo cáo ký ngày 14/11: Với 38 ngành đào tạo làm bằng đại học, tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường đạt từ mức 52 – 98%. Trong đó thấp nhất là ngành Lịch sử đạt 52% – cũng chỉ duy nhất ngành này ở mức dưới 60%. Cao nhất là các ngành Sư phạm Tin học 95%, Tin học 97%, Giáo dục mầm non 98%, Kế toán 96%.

ĐH Sư phạm ĐH Thái Nguyên công bố con số 73% sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy có việc làm sau 1 năm tại báo cáo hoàn thành tháng 11/2014.
Chưa cập nhật thông tin mới, trên website của Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) vẫn đưa số liệu về thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp năm 2012 là 90,22%. Trong đó 55,7% có việc làm đúng và khá đúng với chuyên môn; 89,8% có việc làm trong vòng 6 tháng; 20,6% tiếp tục học cao học ngành đã được đào tạo.
100% và 20%

Một số trường đại học khác “nổi bật” hẳn với những số liệu thống kê đưa ra.Trường ĐH Lạc Hồng công bố tỉ lệ sinh viên khóa 2009 – 2013 ra trường có việc làm của 18 ngành đào tạo đại học ở con số mơ ước: 100%. Đối với 4 ngành đào tạo thạc sĩ khóa 2012 – 2014 tỉ lệ cũng ở mức 100%.
Ấn tượng không kém, Trường ĐH Xây dựng Miền Tây đưa ra con số 100% đối với tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau 1 năm ra trường ở các ngành hệ cao đẳng đại trà: Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng, Công nghệ kỹ thậut tài nguyên nước, Kế toán. Chương trình liên thông chính quy và vừa học vừa làm các ngành Kế toán và Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng.

Trong số các trường đã hoàn thành báo cáo công khai năm học 2014 – 2015, có lẽ tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm mà Trường ĐH Hà Tĩnhcông bố là khiêm tốn nhất: Đối với khoá sinh viên 2010 – 2014 ngành SP Toán 33,5%, SP Vật lý 20%, SP Hoá 24,1%, SP Tiếng Anh 63,2%, GD Chính trị 20,7%, GD Tiểu học 50,9%, GD Mầm non 32,8%, Công nghệ thông tin 38,5%, Quản trị kinh doanh 31,7%, Kế toán 31,7%. Điều này được lý giải là do trường thực hiện thống kê với khóa mới tốt nghiệp, khi sinh viên ra trường chưa lâu.
Theo: VNN

Bằng Đại học mất giá: Học xong rồi… thất nghiệp!

Theo thống kê của Bộ LĐ- TB&XH, tính tới quý III-2014, cả nước có  174.000 người có trình độ đại học (ĐH) và trên ĐH thất nghiệp. Ngoài ra, có 750.000 lao động có trình độ ĐH đang làm các công việc có yêu cầu thấp hơn ngành nghề được đào tạo. Trước thực trạng trên, các nhà nghiên cứu giáo dục và chuyên gia việc làm cảnh báo nguy cơ nhu cầu nhân lực ĐH đã bão hòa, bằng ĐH đang mất giá.

Những cử nhân tìm việc cho biết nhà tuyển dụng không còn coi trọng bằng ĐH mà chủ yếu yêu cầu nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng và tác phong, thái độ làm việc. Tuy nhiên, những đòi hỏi này hầu hết sinh viên đều không được trang bị kỹ trong nhà trường. Đây chính là nguyên nhân đẩy các cử nhân vào những cuộc đua “marathon” xin việc đầy nhọc nhằn…

Cử nhân kinh tế làm thợ may
Tốt nghiệp ĐH hơn ba năm nay, chị Đỗ Thùy Phương (khoa Kinh tế học Trường ĐH Kinh tế – Luật TP.HCM) vẫn chưa tìm được việc làm phù hợp với ngành học. Để không phải lệ thuộc gia đình, hai năm nay Phương xin làm công nhân may cho một công ty nước ngoài ở TP Biên Hòa (Đồng Nai).
Nói về quá trình nhọc nhằn đi xin việc thời gian qua, Phương không cầm được nước mắt. Từ ngày tốt nghiệp, Phương đã xin việc ở hơn chục công ty nhưng không nơi nào nhận. Xin vào một ngân hàng thì nơi này đòi phải có kinh nghiệm hai năm làm tín dụng, yêu cầu quá khó với một sinh viên vừa ra trường. Phương đành xin vào làm ở một công ty sản xuất bánh kẹo. Bộ phận nhân sự của công ty đang cần người nhưng hồ sơ của Phương bị đánh rớt vì không có kiến thức về quản lý nhân sự. Công ty thứ ba Phương tìm đến đòi phải có nghiệp vụ và kinh nghiệm kế toán… Cùng đường, Phương phải xin làm nhân viên bán hàng các loại dầu gội cho một công ty, lương hưởng theo sản phẩm. Vì phải đi nhiều, hoa hồng ít, thấy cực quá nên chị nghỉ và quyết định đi làm công nhân may một thời gian rồi tính tiếp.
“Cả lớp đều làm trái nghề”“Nếu được chọn lại, mình sẽ không học ngành này. Tiếng là cử nhân kinh tế học mà đi xin việc như “rải truyền đơn” qua nhiều công ty nhưng cũng không có nơi nào nhận. Họ đòi hỏi kinh nghiệm, kỹ năng, chứng chỉ ngoại ngữ này nọ trong khi nhà trường đâu có trang bị kỹ cho sinh viên những kiến thức này. Cuối cùng mình phải làm công nhân, uổng bốn năm học” – Phương ngậm ngùi.
NTV tốt nghiệp khoa Địa lý Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM, đến nay cũng chưa xin được công việc đúng ngành học sau hai năm tốt nghiệp. Hiện V. đang làm nhân viên trực tổng đài cho một công ty điện thoại để nuôi sống bản thân. V. tâm sự bạn quyết định chọn thi vào khoa Địa lý vì người tư vấn nói học ngành này có thể ra làm giáo viên, khảo cổ, hướng dẫn viên du lịch hoặc khí tượng thủy văn. Khi học đến năm ba, khoa phân ngành, V. chọn hướng dẫn viên du lịch vì bạn thật sự yêu thích ngành học này.
Tuy nhiên, khi ra trường V. mới biết học ngành này không thể đủ điều kiện xin việc làm. V. cho biết bạn xin vào làm cho một công ty du lịch tại TP.HCM. Với ngoại hình xinh đẹp và khá cao, V. được phía công ty nhận ngay. Nhưng công việc của V. không phải là làm hướng dẫn viên như mong muốn mà chỉ đi theo đoàn du lịch để hỗ trợ những công việc vặt như nhặt rác trên xe, liên hệ mua đồ dùng cho khách, lo nhà nghỉ, tổng hợp giấy tờ sau chuyến đi…
“Mình hỏi tại sao như vậy, phía quản lý công ty chỉ nói ngành mình học chung chung quá. Nếu mình muốn làm hướng dẫn viên du lịch thì phải chờ năm năm nữa để học nghề. Mình làm được ba tháng thì xin nghỉ vì tốt nghiệp ĐH mà làm công việc tạp vụ coi sao được” – V. nói.
V. xin tiếp vào hai công ty bất động sản với vai trò nhân viên tư vấn. Do không có kiến thức về kinh doanh nhà, đất nên sau hai tháng V. không giới thiệu bán được căn hộ nào nên bị chuyển sang bộ phận lễ tân. “Vì lương thấp quá nên mình lại xin nghỉ” – V. nói.
Sau đó V. quyết định đi học thêm nghiệp vụ sư phạm tại Trường ĐH Sư phạm TP để về quê dạy học. Nhưng khi học xong V. bị nhiều trường từ chối vì họ chỉ tuyển đúng ngành sư phạm. Bí quá, V. đành phải xin vào làm trực tổng đài một công ty điện thoại.
“Mình nghĩ sinh viên tốt nghiệp một trường thuộc ĐH Quốc gia chắc sẽ được ưu ái khi tìm việc, vậy mà lấy được bằng rồi mới thấy khó. Lớp mình có khoảng 40 bạn theo ngành du lịch, tốt nghiệp cũng toàn khá giỏi nhưng hầu hết đều đi làm trái ngành” – V. chia sẻ.
Học cao học để… né thất nghiệp
Tại một hội thảo về việc làm do Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM tổ chức mới đây, một bạn nữ đã tốt nghiệp ngành quản trị kinh doanh Trường ĐH Kinh tế TP.HCM đứng lên chia sẻ câu chuyện tìm việc làm của mình khiến người nghe ngậm ngùi. Bạn kể tốt nghiệp được hai năm, sau một thời gian không tìm được công việc nên bạn học tiếp lên cao học để… tạm thời thoát cảnh thất nghiệp. Bạn cho biết từ khi tốt nghiệp, bạn đã đi nhiều trung tâm và hội chợ giới thiệu việc làm để tìm việc nhưng đều thất bại. Các công ty hầu như ít tuyển người có trình độ ĐH. Họ chỉ tuyển nhân viên chủ yếu đi bán hàng để hưởng hoa hồng.
“Dường như môi trường đào tạo không chỉ khác thực tế mà là ngược lại hẳn. Đào tạo vừa có cái lạc hậu, có cái quá cao siêu, lý thuyết; khi ra thực tế chẳng khác nào bị rớt xuống giếng, không làm được việc như nhà tuyển dụng yêu cầu. Học ĐH để có tấm bằng chơi vậy thôi. Sắp tới học xong cao học không biết có khá hơn không nữa” – bạn này nói.
Không chỉ ngành kinh tế, xã hội mà cả sinh viên kỹ thuật cũng chung cảnh thất nghiệp. Lê Huy Hoàng tốt nghiệp ngành điện tử của ĐH Công nghiệp TP được hai năm. Đến nay những công việc mà Hoàng làm giống như việc làm thêm thời sinh viên: treo panô cho các công ty quảng cáo, giao hàng cho các trang web bán hàng trên mạng, mở quán cà phê vỉa hè… Mới đây Hoàng quyết định học lái xe tải và cùng với một số bạn bè góp tiền mua một xe tải nhỏ để chở thuê.
Hoàng cho biết ngành bạn học xin vào làm công nhân lắp ráp ở các công ty điện tử thì dễ nhưng xin được vào bộ phận phù hợp với bằng cử nhân thì rất khó. Họ đòi hỏi chuyên môn cao, biết sâu về những máy móc hiện đại trong khi học ở trường chỉ thực hành trên những máy móc lạc hậu, đi thực tế thì rất hạn chế.
“Mình thấy uổng công vì đã bỏ rất nhiều tiền và thời gian để đi học. Kiến thức thu về toàn lý thuyết, không ứng dụng được gì. Tốt nghiệp ĐH nhưng ai hỏi mình đều nói chỉ tốt nghiệp trung cấp thôi, như thế cho khỏe!” – Hoàng cười.
Theo: VNN