Bí quyết học khối A1 của thủ khoa ĐH Kinh tế Đà Nẵng

Bạn Nguyễn Phương Minh, cựu học sinh Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn Đà Nẵng, là thủ khoa khối A1 Trường ĐH Kinh tế Đà Nẵng mùa tuyển sinh ĐH năm 2014 với số điểm các môn: toán 9 điểm; lý 8,75 điểm; Anh văn 9 điểm.

Nguyễn Phương Minh – Thủ khoa ĐH Kinh tế Đà Nẵng năm 2014

Trước thềm kỳ thi THPT quốc gia 2015, Nguyễn Phương Minh có những chia sẻ thú vị về kinh nghiệm làm bài của mình.
Toán: Phải bình tĩnh trước những câu khó
Kinh nghiệm để ôn thi môn toán đối với Phương Minh chính là phải học hết toàn bộ lý thuyết. Đối với bài tập, phải thường xuyên giải nhiều bài cùng một dạng đề để nắm chắc phương pháp. Bên cạnh đó, phải thường xuyên tranh thủ thời gian để giải đề thi. Có vậy mới không bị bối rối khi cầm một đề thi.
Đối với Phương Minh, để kiếm điểm 8-9 bài thi môn toán không quá khó. “Phải hết sức bình tĩnh mới có thể làm bài tốt môn toán. Nên chọn các câu dễ để xử lý trước. Đừng tập trung vào bài toán khó trước rồi hốt hoảng, mất tinh thần và thời gian. Cứ làm những câu mà mình chắc chắn trước để lấy điểm. Những câu khó từ từ giải quyết sau”, Minh nhấn mạnh.
Một lưu ý mà Minh luôn để tâm khi làm bài, đó là mỗi khi làm những câu hình học, Minh luôn vẽ hình sao cho thật to, rõ ràng, để khi làm bài hình không để mắc phải lỗi nào do hình vẽ.
Lý: Cẩn trọng với quỹ thời gian khi làm bài
Một trong những cách ôn luyện dành cho môn lý của Minh cũng là việc giải các bộ đề, nhưng việc giải đề phải đều đặn, thường xuyên hơn cả môn toán, bởi với Minh, môn lý có những lắt léo không giống như môn toán.
Cùng với việc giải nhiều bộ đề để ôn luyện, Minh cho biết môn lý hay hỏi những câu lý thuyết rất nhỏ, nếu không để ý sẽ bị mất điểm ở câu này. Và muốn làm được phải học thật kỹ lý thuyết trong sách giáo khoa.
“Khi làm bài môn lý, rất nhiều bạn sau khi làm bài thi đều mắc chung một sai sót, đó là không để ý đến thời gian. Cần cẩn trọng với quỹ thời gian khi làm bài thi môn lý bởi thời gian làm bài rất hạn chế”, Minh cho hay.
Theo Minh, đối với môn lý, bạn luôn luyện cho mình cách làm tắt các câu hỏi mới có thể đủ thời gian
Một trong những kinh nghiệm “sống chết” của Minh đối với môn lý là bạn luôn luyện cho mình cách làm tắt các câu hỏi của đề thi môn lý. “Phải luyện thật tốt cách làm tắt thì mới có thể đủ thời gian để giải đề thi trắc nghiệm môn lý. Nếu không, chắc chắn sẽ có nhiều câu bạn chưa kịp rờ tới và đánh theo cảm giác”, Minh nhắn nhủ với những tân thí sinh của kỳ thi năm nay.
Anh văn: Không lo lắng trước những từ lạ
Việc ôn luyện ngữ pháp, từ vựng môn Anh văn để chuẩn bị cho kỳ thi bao giờ cũng rất quan trọng. Giải nhiều đề thi Anh văn là cách dễ nhất để nhớ ngữ pháp, từ vựng.
“Khi bắt tay vào làm bài thi, bạn cần đọc qua một lượt đề rồi bắt tay vào làm. Ở phần đọc hiểu, đừng lo lắng trước những từ lạ, mà hãy đọc hết toàn bộ cả bài để nắm bắt ý chính làm bài. Nắm được ý chính rồi thì từ lạ không còn là vấn đề nữa”, Minh nói về kinh nghiệm làm bài môn Anh văn của mình.
Minh cho biết thêm, một trong những yếu tố tích cực để làm bài thi tốt đúng như khả năng của mình là phải luôn luôn bình tĩnh, tự tin khi bước vào mỗi môn thi.
Xem thêm: >> làm bằng đại học tại Hà nội
Theo: TNO

Văn bằng kỹ sư tương đương trình độ thạc sĩ

Việc công nhận tương đương văn bằng khá đặc biệt này được thực hiện đối với chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao (PFIEV) triển khai tại Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Bách khoa – ĐH Quốc gia TP.HCM, ĐH Bách khoa – ĐH Đà Nẵng và ĐH Xây dựng. 

Trong công văn vừa gửi đến các ĐH, học viện, Bộ GD-ĐT cho biết chương trình PFIEV đã được Ủy ban văn bằng kỹ sư Pháp (CTI) và Cơ quan kiểm định các chương trình đào tạo kỹ sư châu Âu (ENAEE) công nhận tương đương trình độ thạc sĩ.
Trên cơ sở này, Bộ GD-ĐT xác nhận văn bằng chương trình PFIEV tương đương trình độ thạc sĩ trong việc xét tuyển học tiếp lên trình độ cao hơn theo đúng ngành đào tạo.
Theo thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga, các cơ sở có đào tạo trình độ tiến sĩ căn cứ vào chương trình đào tạo của mình và bảng điểm của học viên tốt nghiệp chương trình PFIEV quy định khối lượng kiến thức cần bổ sung để được nhận bằng thạc sĩ hoặc để vào học chương trình tiến sĩ theo quy định.
Riêng các trường đang triển khai chương trình PFIEV căn cứ chương trình đào  tạo thạc sĩ của trường để quyết định khối lượng kiến thức bổ sung đối với sinh viên năm cuối chương trình PFIEV có nguyện vọng học chuyển tiếp để nhận thêm bằng thạc sĩ.
Theo: TTO

Xu hướng ra đề mở

Nhiều đề kiểm tra học kỳ 2 vừa qua ở một số trường tại TP.HCM tạo điều kiện tối đa cho học sinh thể hiện được quan điểm và tư duy phân tích thực tế. Hướng ra đề này giúp giáo viên mạnh dạn hơn trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy.

Mang hơi thở cuộc sống
Đề kiểm tra môn địa khối 9 của Q.1 có một câu hỏi để học sinh (HS) nêu được những quan ngại, bức xúc về môi trường như: “Hãy nêu một vấn đề môi trường bức xúc nhất ở địa phương em đang sống và đề xuất hai giải pháp để giải quyết hoặc hạn chế tình trạng đó”.
Theo HS Nguyễn Hoàng Như Phương (lớp 9/2, Trường THCS Nguyễn Du, Q.1) khi vừa đọc câu hỏi này, em đã liên tưởng đến ngay vấn đề vứt rác bừa bãi ở khu phố mình. Khánh Ngân, HS lớp 9/8 của trường này, cũng cho rằng đề địa ra 4 câu nhưng HS phải hiểu bài mới làm được. “Em học bài nhiều lắm, nhưng để làm đề này không phải thuộc là đủ mà yêu cầu chúng em phải biết phân tích và vận dụng kiến thức đã học”, Ngân nói.
Đề thi văn khối 8 của quận này cũng đặt ra vấn đề về việc học vẹt, học tủ và chép văn mẫu. Đề có đưa ra một đoạn trích trong Luận văn thị phạm của Nghiêm Toản (SGK Ngữ văn 8, tập 2, trang 98): “… Sự học mà đã hạ xuống là học “tủ” thì chúng tôi không còn cần làm việc cùng các bạn nữa. Sao không có một “hãng” nào đó in ra độ 300 bài làm sẵn để HS cứ việc mang về học thuộc như con vẹt rồi đem nguyên văn chép lại cho hội đồng chấm thi duyệt xem chép sai hay đúng…” và yêu cầu HS viết đoạn văn nghị luận liên quan đến một trong các vấn đề: học vẹt, học tủ; chép văn mẫu, một thói quen của HS khi làm văn.
Theo cô Phùng Thị Ngọc Mai, giáo viên Trường THCS Huỳnh Khương Ninh, Q.1, đề văn đã đề cập đến một thực trạng đang tồn tại trong HS: học vẹt, văn mẫu, học mà không cần hiểu. “Nhìn qua một số bài làm của HS, tôi thấy các em viết dễ thương. Có em đặt ra vấn đề nếu văn mẫu mang tính tiêu cực, gây hậu quả đối với HS thì sao người ta lại cho phát hành? Cũng có em nêu vấn đề HS nên có lối học chủ động, làm chủ kiến, còn các bài văn mẫu chỉ dùng để tham khảo”.
Theo cô Mai, từ việc đổi mới đánh giá trong học kỳ 1, giáo viên đổi mới được phương pháp dạy trong học kỳ 2, thay đổi cách đánh giá HS. Hình thức ra đề mới, đề mở giúp giáo viên mạnh dạn và chủ động trong thay đổi phương pháp giảng dạy, tránh lối mòn học vẹt, học tủ của HS.
Ứng dụng đổi mới ở môn tự nhiên
Việc đổi mới ra đề kiểm tra học kỳ cũng có trong đề thi các môn khoa học tự nhiên.
Đề kiểm tra môn hóa kỳ 2 lớp 12 Trường THPT Bùi Thị Xuân, Q.1 đã vận dụng, tích hợp kiến thức ngoài xã hội. Câu 5 nêu: “Động Phong Nha – Kẻ Bàng ở tỉnh Quảng Bình là một trong những di sản thiên nhiên thế giới của VN. Những thạch nhũ tuyệt đẹp ở động Phong Nha – Kẻ Bàng đã góp phần thu hút hàng triệu lượt du khách trong nước và quốc tế đến với Quảng Bình mỗi năm. Cùng với Phong Nha – Kẻ Bàng, đất nước ta còn có những hang động đá vôi tuyệt đẹp như động Hương Tích ở Mỹ Đức – Hà Nội, hang Bồ Nông ở vịnh Hạ Long – Quảng Ninh. Phản ứng nào sau đây giải thích quá trình tạo thạch nhũ? Câu 7 nêu: Dự án luyện nhôm Đắk Nông là dự án luyện nhôm đầu tiên của VN và do một doanh nghiệp tư nhân trong nước trực tiếp đầu tư nên có vai trò rất quan trọng không chỉ với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Đắk Nông, mà còn với cả nước nói chung. Hãy cho biết nguyên liệu chính dùng để sản xuất nhôm là nguyên liệu nào sau đây? Câu 28 ghi: Trong những tháng vừa qua, báo chí đưa tin nguồn phóng xạ của Nhà máy thép Pomina 3 – Bà Rịa-Vũng tàu đã bị thất lạc, các nguồn phóng xạ có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người. Nếu phát hiện một thiết bị có khả năng chứa nguồn phóng xạ thì chúng ta sẽ quan sát trên thiết bị có ký hiệu nào sau đây?
Theo thầy Nguyễn Hùng Khương, Phó hiệu trưởng Trường THPT Bùi Thị Xuân, việc thay đổi cách đánh giá, cách ra đề sẽ giúp giáo viên thay đổi được phương pháp giảng dạy. Đồng thời, việc sáng tạo ra đề ở môn hóa, mục đích là nhà trường muốn đưa hơi thở cuộc sống, kiến thức xã hội để HS cảm thấy thích thú và thấy thực tế. Thầy Lê Thành Thái, Hiệu trưởng Trường trung học thực hành (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM), cho biết trường cũng đã từng bước đổi mới trong việc ra đề ở môn toán. Ví dụ như đưa cách tính tiền taxi để yêu cầu HS vận dụng vào các dạng bài giải tích tổ hợp
Theo: Thanh Niên

Điều kiện vào học lớp 10 tại TP.HCM

 Tôi làm việc tại TP.HCM và có con học lớp 9 tại Đà Nẵng, năm nay vào lớp 10 tôi muốn cho cháu vào học tại Trường THPT Bùi Thị Xuân (Q.1) hoặc Trường THPT Marie Curie (Q.3). Vậy tôi có thể sử dụng kết quả thi tuyển sinh ở Đà Nẵng để xét tuyển vào các trường của TP.HCM được không? (Trần Hà Minh, Q.Phú Nhuận, TP.HCM).

– Ông Phạm Ngọc Tiến, Trưởng phòng Giáo dục trung học Sở GD-ĐT TP.HCM: Có thể lấy kết quả trúng tuyển vào lớp 10 công lập tại Đà Nẵng để xin chuyển trường vào TP.HCM. Tuy nhiên, học sinh phải có hộ khẩu thường trú hoặc KT3 TP.HCM thì mới được thực hiện chuyển trường. Và tùy vào kết quả học tập của học sinh, Sở cùng trường THPT mới xét học sinh vào trường nào.
* Em có hộ khẩu thường trú và đang học tại Long An nhưng có nhà bà con ở Q.1. Vậy em có thể đăng ký nguyện vọng lớp 10 vào Trường THPT Ernst Thälmann được không? Em cần làm thủ tục và điều kiện như thế nào? (Lý Như Tâm, Long An)

– Ông Nguyễn Văn Thành, Hiệu trưởng Trường THPT Ernst Thälmann (Q.1): Học sinh tốt nghiệp THCS tại các địa phương muốn học lớp 10 tại TP.HCM phải thỏa mãn điều kiện đủ là trúng tuyển vào lớp 10 công lập tại nơi mình học lớp 9 và điều kiện cần có là lý do chính đáng để chuyển về TP. Tuy vậy, cũng phải kết thúc học kỳ 1 lớp 10, sau khi có mã số học sinh thì mới thực hiện các thủ tục chuyển trường. Lúc này, học sinh làm đơn và có sự phê duyệt của hai sở GD-ĐT cùng 2 trường THPT nơi đi và nơi đến. Riêng học sinh đang học lớp 10 tại TP thì chỉ cần làm đơn có sự chấp thuận của 2 trường THPT.

* Học sinh đoạt giải các môn lịch sử, địa lý trong đợt thi học sinh giỏi cấp TP vừa qua thì được cộng điểm ưu tiên như thế nào trong việc xét vào các trường THPT không chuyên. Nếu học sinh đó đăng ký thi vào trường chuyên nhưng không thi vào lớp chuyên của môn được giải thì có được cộng điểm ưu tiên trong kết quả thi không? (Nguyễn Nguyên, Q.Gò Vấp, TP.HCM)
– Ông Trần Mậu Minh, nguyên Hiệu trưởng Trường THCS Trần Văn Ơn (Q.1): Học sinh đoạt giải cá nhân trong kỳ thi học sinh giỏi cấp TP các môn văn hóa được cộng điểm khuyến khích vào kết quả thi tuyển sinh vào lớp 10 theo mức sau: Giải nhất: 2 điểm; Giải nhì: 1,5 điểm; Giải ba: 1 điểm. Nếu thí sinh dự thi lớp 10 chuyên mà môn thi chuyên trùng với môn đoạt giải thì cũng được cộng các mức điểm như trên. Tuy nhiên, do TP không có lớp chuyên 2 môn địa lý và lịch sử nên học sinh không thể chọn 2 môn thi này để thi vào các lớp 10 không chuyên trong trường chuyên.
Theo: TNO

Bằng Đại học mất giá: Trường dạy chay, nhà tuyển dụng chạy dài

Mổ xẻ nguyên nhân gia tăng sinh viên (SV) ra trường thất nghiệp, các chuyên gia trong lĩnh vực đào tạo đại học (ĐH) và việc làm đều cho rằng phần lớn là do chương trình đào tạo nặng lý thuyết, ít thực hành, xa rời ứng dụng; kế hoạch chỉ tiêu đào tạo của các trường không gắn với nhu cầu thị trường lao động.

Phát biểu tại Diễn đàn các bên liên quan trong giáo dục ĐH định hướng nghề nghiệp ứng dụng tại Việt Nam do Bộ GD&ĐT tổ chức cuối tháng 12-2014 tại Hà Nội, TS Phạm Thị Ly, Viện Đào tạo quốc tế – ĐH Quốc gia TP.HCM, đặt thẳng vấn đề: Nguyên nhân chính là do nhu cầu bằng cấp ĐH đã bão hòa, bằng ĐH đã gần mất hết giá trị.

“Chỉ cần một micro là dạy ầm ầm”
Phân tích giá trị làm bằng đại học tại TPHCM giảm thấp trong mắt nhà tuyển dụng, TS Đỗ Văn Dũng, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, cho rằng do chương trình đào tạo ở nhiều trường ĐH còn nặng lý thuyết, việc ứng dụng vào công việc thực tiễn không cao. “Nhiều trường có ngành nghề đào tạo truyền thống lẫn những trường mới mở đều chăm chăm vào những ngành ít tốn tiền, dễ sinh lời và ít đầu tư thiết bị thực hành. Những ngành nghề này chỉ cần một ông thầy với một cái micro là dạy ầm ầm” – TS Dũng bày tỏ.
TS Phạm Thị Ly cũng cho rằng hiện nay đại bộ phận hoạt động đào tạo của các trường ĐH đều theo lối truyền thống, không có sự phân biệt rõ ràng về sứ mệnh và thiếu gắn kết với việc làm; nhấn mạnh lý thuyết hàn lâm mà ít tạo cơ hội cho SV trải nghiệm. “Chừng nào lối dạy chay, chủ yếu đáp ứng nhu cầu bằng cấp của người học vẫn có đất sống thì chừng đó các trường chưa có động lực thay đổi” – TS Ly sốt ruột.
Đồng tình với các phân tích trên, ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo nhân lực và thị trường lao động TP.HCM, phân tích thêm hiện các nhà tuyển dụng đòi hỏi ngày càng cao các kỹ năng mềm nhưng đây là điều mà nhà trường và cả SV chưa quan tâm đầy đủ. “Các kỹ năng như giao tiếp, làm việc nhóm, làm việc độc lập, sự sáng tạo… được nhà tuyển dụng đánh giá cần thiết hơn cả bằng cấp. Tuy nhiên, vấn đề này ở các trường triển khai còn mang tính… sơ khai. Nên đây là điều còn nhiều lo ngại, là điều các doanh nghiệp than phiền nhiều nhất” – ông Tuấn cho biết.
  đại học, thất nghiệp, cử nhân, Trần Anh Tuấn, việc làm, Phạm Thị Ly

Chỉ học lý thuyết, ít thực hành là một nguyên nhân khiến bằng ĐH mất giá. Trong ảnh: SV Trường CĐ nghề TP.HCM trong giờ học thực hành.
Ảnh: P.ĐIỀN
Nhắm mắt đào tạo
Một nguyên nhân quan trọng khác khiến SV ra trường thất nghiệp nhiều, theo TS Dũng là do kế hoạch chỉ tiêu đào tạo của các trường hằng năm không gắn kết với nhu cầu thị trường lao động. “Việc cấp chỉ tiêu đào tạo không bám sát thị trường lao động khiến nguồn nhân lực thừa. Chẳng hạn thời gian vừa qua nguồn nhân lực thừa đã diễn ra ở những nhóm ngành kinh tế, tài chính, sư phạm khiến Bộ GD&ĐT phải tuýt còi” – TS Dũng bức xúc.
Trước tình trạng nơi đào tạo thì vẫn cứ nhắm mắt đào tạo trong khi đầu ra và nhu cầu thị trường lại bão hòa, thậm chí dư thừa, gây lãng phí. “Lẽ ra phải có một cơ quan, tổ chức đứng ra điều tiết, dự báo thị trường lao động cần gì, cần bao nhiêu, trình độ như thế nào, kỹ năng gì… Từ đó sẽ đưa ra các chỉ tiêu đào tạo tương ứng mới không làm rối loạn đào tạo. Thế nhưng vấn đề này nhiều năm nay nêu ra rồi để đó để năm sau lặp lại như cũ” – TS Dũng phân trần.
Cũng đề cập cung-cầu thị trường lao động, ông Tuấn nhìn nhận cơ cấu đào tạo ngành nghề của các trường ĐH và thị trường lao động luôn có sự vênh nhau. Cụ thể cơ cấu ngành kỹ thuật chiếm khoảng 35% trên nhu cầu thị trường việc làm, tuy nhiên trong nhiều năm gần đây các trường ĐH lại tập trung đào tạo khối ngành kinh tế, tài chính dẫn đến sự dư thừa. “Chưa kể có sự ngộ nhận học ngành kinh tế có thu nhập cao hơn các ngành khác nên nhiều người đổ xô đi học. Thực tế các ngành kinh tế cần nhiều kỹ năng đặc biệt chứ không dựa hẳn vào tấm bằng” – ông Tuấn nhấn mạnh.
“Xuống dốc không thắng”
Đào tạo xa rời thực tế khiến người tốt nghiệp ĐH thất nghiệp; đào tạo không cần biết đến nhu cầu dẫn đến dư thừa nhân lực ĐH. Thực trạng trên khiến xã hội báo động: Bằng ĐH đang mất dần giá trị. Dẫn chứng cho lập luận này, TS Ly nêu thực trạng “xuống dốc không thắng” của bằng cấp hệ tại chức. Nhiều địa phương đã “nói không” với bằng ĐH hệ tại chức. “Tình hình cử nhân thất nghiệp, lạm phát bằng cấp, năng suất lao động quá thấp so với các nước trong khu vực, số người vào ĐH bắt đầu giảm từ ba năm qua cùng lúc với số lượng du học tự túc tăng nhanh là những hiện tượng cho thấy lòng tin của xã hội đối với tấm bằng ĐH đã giảm sút rất nhiều” – TS Ly phân tích.
Ở góc nhìn của một chuyên gia về việc làm, ông Tuấn cho rằng nếu tính người có bằng ĐH trên tổng số dân thì tỉ lệ người có bằng ĐH tại nước ta vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, những năm gần đây kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp giải thể, thu hẹp sản xuất nhiều khiến nhu cầu tuyển dụng chậm lại trong khi tốc độ đào tạo ngày càng tăng. Từ đó ông Tuấn thừa nhận có tình trạng thừa nhân lực trình độ ĐH theo kiểu cục bộ.
“Những người tốt nghiệp ĐH đều dồn về các thành phố lớn. Tại TP.HCM trong vòng ba năm qua, mỗi năm SV ĐH, CĐ tốt nghiệp ra trường khoảng 70.000 người. Trong khi nhu cầu tuyển dụng trình độ ĐH, CĐ chiếm khoảng 25% trong tổng nguồn cầu 270.000 chỉ tiêu lao động/năm” – ông Tuấn dẫn chứng.
Cũng theo ông Tuấn, ngoài số SV chính quy ra trường mỗi năm còn có SV hệ liên thông, liên kết, tại chức và SV các tỉnh, thành tốt nghiệp đổ về khiến áp lực việc làm tại các đô thị lớn cạnh tranh gay gắt. Nguồn cung trình độ ĐH bị dư là không thể tránh khỏi.
Theo: VNN

Cử nhân thất nghiệp: Xã hội kêu nhiều, trường bảo ít

Các trường đại học công khai những con số khá lạc quan về tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm.
Theo Quy chế thực hiện 3 công khai mà Bộ GD-ĐT triển khai từ năm 2009, các trường ĐH, CĐ phải công bố trước xã hội về tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường một năm.
  cử nhân, thất nghiệp, ĐH Luật TPHCM, ĐH Thái Nguyên, ĐH lạc Hồng
  Các trường ĐH, CĐ phải công bố tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau khi ra trường 1 năm (Ảnh Lê Anh Dũng)

Giữa tháng 10/2014, Bộ GD-ĐT cũng đã có công văn yêu cầu các trường thực hiện công khai năm học 2014 – 2015. Đặc biệt, là công khai chất lượng giáo dục thực tế về tỉ lệ SV hệ chính quy tốt nghiệp năm 2013 có việc làm.
Tới thời điểm này, còn khá nhiều trường ĐH, kể cả các trường ĐH nhóm đầu, bỏ trống việc công khai tỉ lệ sinh viên có việc làm, dù vẫn công bố các số liệu thống kê mới nhất của năm học 2014 – 2015.

Còn đối với những trường đã công khai số liệu rất được quan tâm này, thì dường như tình trạng cử nhân thất nghiệp không… quá mức gay gắt như xã hội vẫn lo ngại!
Những con số lạc quan
Trường ĐH Mở TP.HCM trong báo cáo công khai ký ngày 4/12/2014, đối với khoá học 2009 (và 2008) – 2013 tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm khá cao.

Trong 16 ngành đào tạo chính quy của trường thì các ngành có tỉ lệ thấp nhất là Xã hội học, Công tác xã hội, Đông Nam Á học là 72%. Ngành Công nghệ sinh học 80%, Kế toán 84%, các ngành Tin học và Hệ thống thông tin kinh tế 86%, các ngành Xây dựng và Công nghiệp là 88%, các ngành Kinh tế và Luật Kinh tế 90%, Tiếng Anh, Tiếng Nhật, Tiếng Trung Quốc 92%, Quảng trị kinh doanh 96%. Ba ngành của chương trình tiên tiến là Quản trị kinh doanh, Kế toán, Tài chính ngân hàng đều đạt tỉ lệ 96%. Các ngành đào tạo hệ cao đẳng đạt tỉ lệ 88%.

Thông báo Công khai cam kết chất lượng đào tạo thực tế của cơ sở giáo dục đại học năm học 2014 – 2015 của Trường ĐH Phan Châu Trinh ký ngày 14/11/2014 đối với sinh viên khoá 2009 – 2013 tỉ lệ có việc làm là: Công nghệ thông tin 88%, tài chính – Ngân hàng 78,7%, Kế toán 87%, Việt Nam học 90%, Văn học 85%, Ngôn ngữ Anh 95%, Ngôn ngữ Trung Quốc 96%, Công nghệ kỹ thuật điện tử truyền thông 89%.

Trường ĐH Luật TPHCM công bố số liệu khảo sát của 5 khóa học sinh gần đây nhất, với các số liệu sau: Khóa 28, 29 (khảo sát năm 2009) tỉ lệ 100%, khóa 30 (năm 2010) 95,91%, khóa 31 (năm 2011) 97,23%, khóa 32 (năm 2012) 94,5%, khóa 33 (năm 2013) 85,3%.
Theo nhận định của nhà trường, tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp Trường ĐH Luật TP.HCM tốt nghiệp hàng năm có việc làm là rất cao.
Điều này chứng tỏ nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực là sinh viên Luật là vẫn còn rất cao. Tuy nhiên, theo tỉ lệ thống kê thì số lượng sinh viên có việc làm đang có chiều hướng giảm do thời gian gần đây sinh viên Luật gặp phải sự cạnh tranh nghề nghiệp khá gắt gao với việc có nhiều cơ sở cũng đào tạo Cử nhân Luật như: ĐH Kinh tế – Luật, ĐH Sài Gòn, ĐH Kinh tế TP.HCM, ĐH Mở TP.HCM…

Trường ĐH Tài chính – Marketing công bố tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp năm 2013 có việc làm tính đến đầu năm 2014 đối với hệ đại học chính quy chương trình đại trà là 64%, trong đó ngành hệ thống thông tin quản lý đạt tỉ lệ thấp nhất là 60%, ngành Marketing đạt tỉ lệ cao nhất là 75%. Hệ cao đẳng chính quy chương trình đại trà đạt trung bình là 62%.

ĐH Quy Nhơn báo cáo ký ngày 14/11: Với 38 ngành đào tạo làm bằng đại học, tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường đạt từ mức 52 – 98%. Trong đó thấp nhất là ngành Lịch sử đạt 52% – cũng chỉ duy nhất ngành này ở mức dưới 60%. Cao nhất là các ngành Sư phạm Tin học 95%, Tin học 97%, Giáo dục mầm non 98%, Kế toán 96%.

ĐH Sư phạm ĐH Thái Nguyên công bố con số 73% sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy có việc làm sau 1 năm tại báo cáo hoàn thành tháng 11/2014.
Chưa cập nhật thông tin mới, trên website của Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) vẫn đưa số liệu về thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp năm 2012 là 90,22%. Trong đó 55,7% có việc làm đúng và khá đúng với chuyên môn; 89,8% có việc làm trong vòng 6 tháng; 20,6% tiếp tục học cao học ngành đã được đào tạo.
100% và 20%

Một số trường đại học khác “nổi bật” hẳn với những số liệu thống kê đưa ra.Trường ĐH Lạc Hồng công bố tỉ lệ sinh viên khóa 2009 – 2013 ra trường có việc làm của 18 ngành đào tạo đại học ở con số mơ ước: 100%. Đối với 4 ngành đào tạo thạc sĩ khóa 2012 – 2014 tỉ lệ cũng ở mức 100%.
Ấn tượng không kém, Trường ĐH Xây dựng Miền Tây đưa ra con số 100% đối với tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau 1 năm ra trường ở các ngành hệ cao đẳng đại trà: Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng, Công nghệ kỹ thậut tài nguyên nước, Kế toán. Chương trình liên thông chính quy và vừa học vừa làm các ngành Kế toán và Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng.

Trong số các trường đã hoàn thành báo cáo công khai năm học 2014 – 2015, có lẽ tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm mà Trường ĐH Hà Tĩnhcông bố là khiêm tốn nhất: Đối với khoá sinh viên 2010 – 2014 ngành SP Toán 33,5%, SP Vật lý 20%, SP Hoá 24,1%, SP Tiếng Anh 63,2%, GD Chính trị 20,7%, GD Tiểu học 50,9%, GD Mầm non 32,8%, Công nghệ thông tin 38,5%, Quản trị kinh doanh 31,7%, Kế toán 31,7%. Điều này được lý giải là do trường thực hiện thống kê với khóa mới tốt nghiệp, khi sinh viên ra trường chưa lâu.
Theo: VNN

Bằng Đại học mất giá: Học xong rồi… thất nghiệp!

Theo thống kê của Bộ LĐ- TB&XH, tính tới quý III-2014, cả nước có  174.000 người có trình độ đại học (ĐH) và trên ĐH thất nghiệp. Ngoài ra, có 750.000 lao động có trình độ ĐH đang làm các công việc có yêu cầu thấp hơn ngành nghề được đào tạo. Trước thực trạng trên, các nhà nghiên cứu giáo dục và chuyên gia việc làm cảnh báo nguy cơ nhu cầu nhân lực ĐH đã bão hòa, bằng ĐH đang mất giá.

Những cử nhân tìm việc cho biết nhà tuyển dụng không còn coi trọng bằng ĐH mà chủ yếu yêu cầu nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng và tác phong, thái độ làm việc. Tuy nhiên, những đòi hỏi này hầu hết sinh viên đều không được trang bị kỹ trong nhà trường. Đây chính là nguyên nhân đẩy các cử nhân vào những cuộc đua “marathon” xin việc đầy nhọc nhằn…

Cử nhân kinh tế làm thợ may
Tốt nghiệp ĐH hơn ba năm nay, chị Đỗ Thùy Phương (khoa Kinh tế học Trường ĐH Kinh tế – Luật TP.HCM) vẫn chưa tìm được việc làm phù hợp với ngành học. Để không phải lệ thuộc gia đình, hai năm nay Phương xin làm công nhân may cho một công ty nước ngoài ở TP Biên Hòa (Đồng Nai).
Nói về quá trình nhọc nhằn đi xin việc thời gian qua, Phương không cầm được nước mắt. Từ ngày tốt nghiệp, Phương đã xin việc ở hơn chục công ty nhưng không nơi nào nhận. Xin vào một ngân hàng thì nơi này đòi phải có kinh nghiệm hai năm làm tín dụng, yêu cầu quá khó với một sinh viên vừa ra trường. Phương đành xin vào làm ở một công ty sản xuất bánh kẹo. Bộ phận nhân sự của công ty đang cần người nhưng hồ sơ của Phương bị đánh rớt vì không có kiến thức về quản lý nhân sự. Công ty thứ ba Phương tìm đến đòi phải có nghiệp vụ và kinh nghiệm kế toán… Cùng đường, Phương phải xin làm nhân viên bán hàng các loại dầu gội cho một công ty, lương hưởng theo sản phẩm. Vì phải đi nhiều, hoa hồng ít, thấy cực quá nên chị nghỉ và quyết định đi làm công nhân may một thời gian rồi tính tiếp.
“Cả lớp đều làm trái nghề”“Nếu được chọn lại, mình sẽ không học ngành này. Tiếng là cử nhân kinh tế học mà đi xin việc như “rải truyền đơn” qua nhiều công ty nhưng cũng không có nơi nào nhận. Họ đòi hỏi kinh nghiệm, kỹ năng, chứng chỉ ngoại ngữ này nọ trong khi nhà trường đâu có trang bị kỹ cho sinh viên những kiến thức này. Cuối cùng mình phải làm công nhân, uổng bốn năm học” – Phương ngậm ngùi.
NTV tốt nghiệp khoa Địa lý Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM, đến nay cũng chưa xin được công việc đúng ngành học sau hai năm tốt nghiệp. Hiện V. đang làm nhân viên trực tổng đài cho một công ty điện thoại để nuôi sống bản thân. V. tâm sự bạn quyết định chọn thi vào khoa Địa lý vì người tư vấn nói học ngành này có thể ra làm giáo viên, khảo cổ, hướng dẫn viên du lịch hoặc khí tượng thủy văn. Khi học đến năm ba, khoa phân ngành, V. chọn hướng dẫn viên du lịch vì bạn thật sự yêu thích ngành học này.
Tuy nhiên, khi ra trường V. mới biết học ngành này không thể đủ điều kiện xin việc làm. V. cho biết bạn xin vào làm cho một công ty du lịch tại TP.HCM. Với ngoại hình xinh đẹp và khá cao, V. được phía công ty nhận ngay. Nhưng công việc của V. không phải là làm hướng dẫn viên như mong muốn mà chỉ đi theo đoàn du lịch để hỗ trợ những công việc vặt như nhặt rác trên xe, liên hệ mua đồ dùng cho khách, lo nhà nghỉ, tổng hợp giấy tờ sau chuyến đi…
“Mình hỏi tại sao như vậy, phía quản lý công ty chỉ nói ngành mình học chung chung quá. Nếu mình muốn làm hướng dẫn viên du lịch thì phải chờ năm năm nữa để học nghề. Mình làm được ba tháng thì xin nghỉ vì tốt nghiệp ĐH mà làm công việc tạp vụ coi sao được” – V. nói.
V. xin tiếp vào hai công ty bất động sản với vai trò nhân viên tư vấn. Do không có kiến thức về kinh doanh nhà, đất nên sau hai tháng V. không giới thiệu bán được căn hộ nào nên bị chuyển sang bộ phận lễ tân. “Vì lương thấp quá nên mình lại xin nghỉ” – V. nói.
Sau đó V. quyết định đi học thêm nghiệp vụ sư phạm tại Trường ĐH Sư phạm TP để về quê dạy học. Nhưng khi học xong V. bị nhiều trường từ chối vì họ chỉ tuyển đúng ngành sư phạm. Bí quá, V. đành phải xin vào làm trực tổng đài một công ty điện thoại.
“Mình nghĩ sinh viên tốt nghiệp một trường thuộc ĐH Quốc gia chắc sẽ được ưu ái khi tìm việc, vậy mà lấy được bằng rồi mới thấy khó. Lớp mình có khoảng 40 bạn theo ngành du lịch, tốt nghiệp cũng toàn khá giỏi nhưng hầu hết đều đi làm trái ngành” – V. chia sẻ.
Học cao học để… né thất nghiệp
Tại một hội thảo về việc làm do Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM tổ chức mới đây, một bạn nữ đã tốt nghiệp ngành quản trị kinh doanh Trường ĐH Kinh tế TP.HCM đứng lên chia sẻ câu chuyện tìm việc làm của mình khiến người nghe ngậm ngùi. Bạn kể tốt nghiệp được hai năm, sau một thời gian không tìm được công việc nên bạn học tiếp lên cao học để… tạm thời thoát cảnh thất nghiệp. Bạn cho biết từ khi tốt nghiệp, bạn đã đi nhiều trung tâm và hội chợ giới thiệu việc làm để tìm việc nhưng đều thất bại. Các công ty hầu như ít tuyển người có trình độ ĐH. Họ chỉ tuyển nhân viên chủ yếu đi bán hàng để hưởng hoa hồng.
“Dường như môi trường đào tạo không chỉ khác thực tế mà là ngược lại hẳn. Đào tạo vừa có cái lạc hậu, có cái quá cao siêu, lý thuyết; khi ra thực tế chẳng khác nào bị rớt xuống giếng, không làm được việc như nhà tuyển dụng yêu cầu. Học ĐH để có tấm bằng chơi vậy thôi. Sắp tới học xong cao học không biết có khá hơn không nữa” – bạn này nói.
Không chỉ ngành kinh tế, xã hội mà cả sinh viên kỹ thuật cũng chung cảnh thất nghiệp. Lê Huy Hoàng tốt nghiệp ngành điện tử của ĐH Công nghiệp TP được hai năm. Đến nay những công việc mà Hoàng làm giống như việc làm thêm thời sinh viên: treo panô cho các công ty quảng cáo, giao hàng cho các trang web bán hàng trên mạng, mở quán cà phê vỉa hè… Mới đây Hoàng quyết định học lái xe tải và cùng với một số bạn bè góp tiền mua một xe tải nhỏ để chở thuê.
Hoàng cho biết ngành bạn học xin vào làm công nhân lắp ráp ở các công ty điện tử thì dễ nhưng xin được vào bộ phận phù hợp với bằng cử nhân thì rất khó. Họ đòi hỏi chuyên môn cao, biết sâu về những máy móc hiện đại trong khi học ở trường chỉ thực hành trên những máy móc lạc hậu, đi thực tế thì rất hạn chế.
“Mình thấy uổng công vì đã bỏ rất nhiều tiền và thời gian để đi học. Kiến thức thu về toàn lý thuyết, không ứng dụng được gì. Tốt nghiệp ĐH nhưng ai hỏi mình đều nói chỉ tốt nghiệp trung cấp thôi, như thế cho khỏe!” – Hoàng cười.
Theo: VNN